I. Đặc điểm của lúa cỏ
Lúa cỏ có tên khoa học là Oryza sativa f. spontanea.
- Đặc điểm hình thái và sinh trưởng:
+ Giai đoạn 5-10 ngày sau nảy mầm: Cây lúa cỏ sinh trưởng nhanh, thân mảnh và đứng, phiến lá nhỏ, có màu vàng hơn lúa trồng.
+ Giai đoạn đẻ nhánh đến đứng cái: Cây lúa cỏ đẻ nhánh kém, thân mảnh, lóng vươn dài, lá thưa, phiến lá nhỏ, khóm lúa có màu vàng hơn lúa trồng.
+ Giai đoạn trỗ bông: Lúa cỏ trỗ sớm hơn lúa trồng từ 5-7 ngày, thời gian trỗ kéo dài, trên bông có hạt đang phơi màu, hạt ngậm sữa, hạt chắc xanh nên không có sự đồng đều về màu sắc bông lúa như lúa trồng; hạt có râu dài hoặc không có râu; hạt có dạng thon dài hoặc bầu dục mầu vàng - vàng sẫm, có dạng hạt có mỏ tím, tỉ lệ lép cao.
- Đặc điểm sinh học:
Qua nhiều vụ canh tác, lúa cỏ cũng có sự giao phấn (tỷ lệ nhỏ) với lúa trồng, việc tự để giống khiến lúa phân ly với tính trạng xấu trở nên phức tạp, khó nhận biết và khó quản lý hơn.
Thời gian sinh trưởng ngắn hơn lúa trồng. Hạt lúa rất dễ rụng ngay cả khi có gió thoảng qua (khi hạt lúa vào chắc là bắt đầu rụng hạt, mức độ rụng hạt càng tăng khi đến giai đoạn chín. Tỷ lệ rụng hạt trung bình là 50%, nhiều dòng lên đến đến 90%). Sau khi hạt rụng xuống nếu gặp điều kiện thuận lợi có thể nảy mầm ngay, nếu gặp điều kiện bất thuận (khô hạn, vùi sâu trong bùn, …) hạt có thể ngủ nghỉ nhưng vẫn có sức sống cao, duy trì sức nảy mầm trong vài năm. Do vậy lúa cỏ tồn tại, tích tụ lâu trong đất và tăng dần số lượng qua các vụ. Đặc tính này thể hiện sự khác nhau giữa các dòng lúa cỏ khác nhau, nhưng nhìn chung sức sống của hạt lúa cỏ thường cao hơn rất nhiều so với lúa trồng. Khả năng nảy mầm của lúa cỏ tùy thuộc vào tuổi hạt, kết cấu đất, chế độ nước trên đồng ruộng và độ sâu bị chôn vùi trong bùn.
Khả năng tồn tại trong môi trường: Lúa cỏ có sức sống rất mãnh liệt, khả năng tồn tại rất tốt trong môi trường như hạt cỏ. Hạt lúa cỏ dễ dàng phát tán nhanh và xa nhờ gió hoặc nước do đặc điểm có râu dài.
II. Đặc điểm gây hại
Lúa cỏ mang đặc tính hoang dại nên chúng có khả năng sinh trưởng rất
mạnh, chúng cạnh tranh dinh dưỡng, nước, ánh sáng làm cho lúa trồng sinh
trưởng kém. Trên ruộng lúa có nhiều lúa cỏ thì sau khi trỗ là lúa cỏ đổ ngã và thường kéo theo sự đổ ngã của lúa trồng.
Lúa cỏ có thể gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất lúa canh tác tùy thuộc vào mật độ, loại lúa cỏ với các giống lúa trồng; Giống lúa ngắn ngày thường dễ bị lúa cỏ cạnh tranh hơn so với những giống lúa dài ngày. Có thể làm giảm 15-20% năng suất, thậm chí mất trắng, đồng thời lây nhiễm càng trầm trọng cho những vụ sau. Ruộng bị nhiễm lúa cỏ nặng làm giảm phẩm chất gạo cũng như giảm giá trị tiêu dùng và xuất khẩu (độ lẫn tạp).
III. Nguyên nhân phát sinh và lây lan
- Hạt giống bị lẫn lúa cỏ.
- Thường xuyên sử dụng lúa thương phẩm làm giống lúa bị phân ly, thoái hóa và tính chất di truyền có xu hướng trở lại các đặc tính của nguồn gốc lúa hoang dại ban đầu (hiện tượng lại giống) và xuất hiện lúa cỏ với nhiều kiểu hình khác nhau.
- Người dân tự để giống lúa, nhất là sử dụng giống trong vùng đã nhiễm lúa cỏ để gieo cấy cho vụ sau làm gia tăng lúa cỏ trên đồng ruộng.
- Thời gian chuyển vụ ngắn nên nguồn hạt lúa cỏ lưu tồn trên đồng ruộng từ những vụ trước chưa được xử lý.
- Hạt lúa cỏ có thể di chuyển, phát tán theo nguồn nước, nhờ chim hoặc theo máy móc nông cụ (máy làm đất, máy gặt, …) từ ruộng này sang ruộng khác, nơi này sang nơi khác.
- Trước khi gieo cấy, sạ bà con nông dân không áp dụng các biện pháp cày đất, phơi ải đúng yêu cầu kỹ thuật. Vì thế không xử lý triệt để được tàn dư thực vật của vụ trước, trong đó có hạt lúa cỏ. Việc gieo cấy và sạ dày, đặc biệt là sạ lan làm hạn chế việc kiểm soát lúa cỏ trên ruộng.
- Cơ chế thị trường mở rộng, các giống lúa được mua bán, trao đổi từ nơi này đến nơi khác là nguồn lây lan rất lớn, điển hình lúa cỏ trước kia xuất hiện nhiều ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng một vài năm gần đây đã xuất hiện ở một số tỉnh phía Bắc.
IV. Biện pháp phòng chống lúa cỏ
1. Chọn giống
- Sử dụng giống lúa đủ tiêu chuẩn, chất lượng (giống nguyên chủng, giống xác nhận) để gieo cấy, tuyệt đối không dùng thóc ở các ruộng bị nhiễm lúa cỏ ở vụ trước đem gieo cấy.
- Xử lý hạt giống lúa trước khi gieo: Xử lý bằng nước pha (3 sôi 2 lạnh) để loại bỏ hạt lép, lửng.
2. Biện pháp canh tác
- Làm đất kỹ và trang ruộng bằng phẳng: Biện pháp này nhằm vùi sâu hạt lúa cỏ vào đất, không tiếp xúc được với ánh sáng, hạn chế hạt lúa cỏ nảy mầm và giúp lúa trồng mọc đều, sinh trưởng và phát triển nhanh sẽ tạo tán che phủ làm giảm khả năng mọc và phát triển của lúa cỏ.
- Trong quá trình làm đất, nếu thấy lúa cỏ trôi dạt vào góc ruộng thì tiến hành vớt đem đi tiêu hủy. Đặt lưới tại đầu đường dẫn nước vào ruộng nhằm ngăn chặn hạt lúa cỏ xâm nhiễm.
- Những ruộng bị nhiễm nặng lúa cỏ ở vụ trước nhưng chưa được xử lý được thì đầu vụ sau khi thời tiết còn thuận lợi, nền nhiệt còn cao, lấy nước và tiến hành lồng bừa nông, san phẳng rồi rút cạn nước ruộng (như gieo mạ) để nhử lúa cỏ nẩy mầm. Khi cây lúa cỏ có 3 - 5 lá tiến hành lấy nước cày lật úp, làm đất nhuyễn để diệt lúa cỏ ngay khi còn non. Nếu có đủ thời gian, biện pháp này cần làm lặp lại 2 - 3 lần sẽ diệt được hầu hết hạt lúa cỏ bị vùi trong đất. (biện pháp này nên áp dụng đầu vụ xuân)
- Áp dụng kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI, cấy với mật độ vừa phải, nên chuyển từ phương pháp sạ lan (gieo vãi) sang sạ hàng hoặc cấy tay, cấy máy để dễ dàng làm cỏ sục bùn và nhận biết, loại bỏ lúa cỏ ngay từ sớm.
- Những khu vực đã nhiễm lúa cỏ nhiều cần luân canh lúa với cây trồng cạn hoặc cây trồng nước nhưng khác họ để dễ dàng nhận biết, loại bỏ hầu hết lúa cỏ sau 1-2 vụ.
- Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, tiến hành nhổ bỏ, khử lẫn và đem tiêu hủy lúa cỏ, không được để lúa cỏ trên bờ ruộng, kênh mương, cần chú ý các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn lúa đẻ nhánh - phân hóa đòng:
Với lúa cấy hoặc sạ hàng: Nhổ bỏ những cây ngoài hàng gieo cấykết hợp làm cỏ sục bùn.
Với lúa sạ tay: Đi theo từng lối hoặc băng, quan sát kỹ và nhổ bỏ những cây lúa có đặc điểm khác với giống lúa trồng về kiểu hình (màu sắc thân, màu sắc lá, chiều cao cây, góc lá, độ rộng phiến lá,…).
+ Giai đoạn lúa làm đòng: Cắt bỏ những cây cao, thân mảnh, lá dài, hẹp và màu vàng hơn lúa thường.
+ Giai đoạn lúa trỗ: Cắt bông lúa cỏ khi mới trỗ - ngậm sữa; riêng bông lúa cỏ chắc xanh - chín phải cắt cho vào túi tránh rơi vãi hạt và đem tiêu hủy (cho gia cầm ăn hoặc đốt - không cho gia súc ăn vì hạt lúa cỏ tồn tại trong phân và nảy mầm khi sử dụng phân để bón). Tuyệt đối không được để bông lúa cỏ đã sắp chín - chín trên ruộng, bờ ruộng hoặc vứt xuống kênh mương dẫn nước.
3. Biện pháp sinh học
- Khi gặt xong có thể đưa vịt vào ruộng để ăn các hạt lúa rụng trên ruộng trong đó có cả hạt lúa cỏ.
- Những ruộng nhiễm nặng lúa cỏ không cho thu hoạch cần tiêu hủy toàn bộ ruộng trước khi những bông lúa cỏ trỗ đầu tiên vào giai đoạn ngậm sữa. Khi cày vùi có thể sử dụng các chế phẩm vi sinh để nhanh phân hủy rơm rạ và cả hạt lúa cỏ.
4. Biện pháp hóa học - Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất Pretilachlor như Baloric® 310EC, Chani 300EC, Robin 310EC… để phòng trừ.