di tích lịch sử- lễ hội

Đình Yên Bình
Ngày đăng 16/04/2015 | 00:00

Đình Yên Bình thuộc thôn Yên Bình, xã Dương Xá, đình còn có tên gọi gắn với địa danh của làng là đình An Bình. Nhân dân địa phương còn hay gọi là đình Bằng. Đình Yên Bình đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật vào ngày 28 tháng 5 năm 2003.

Hiện nay, không có nguồn tư liệu thành văn nào ghi lại niên đại xây dựng di tích. Di vật có niên đại sớm nhất hiện còn lưu tại đình là đạo sắc phong cho thần có niên đại Quang Trung năm thứ năm (1792) và một hương án mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Từ cơ sở tư liệu trên, có thể xác định chắc chắn rằng đình Yên Bình có niên đại khởi dựng muộn nhất vào thời Lê Trung Hưng (Thế kỷ XVII- XVIII).
Đình Yên Bình toạ lạc trên một mảnh đất cao rộng, thoáng mát trong khu vực cư trú của làng. Tới thăm nơi đây, dù chỉ một lần, du khách sẽ nhớ mãi một ngôi đình cổ ẩn mình sau tán cây gạo cổ thụ và soi mình bên dòng nước trong xanh. Các công trình kiến trúc được xây dựng trên một trục chính dọc từ ngoài vào trong gồm nghi môn, đại đình, ống muống và hậu cung. Đây là một tổng thể thống nhất, nối liền nhau, kiểu kiến trúc xây gạch kết hợp với bộ mái làm bằng gỗ, kiểu tàu đao chéo gác. Những bộ phận rời rạc đã được người thợ xưa liên kết lại một cách tài tình bằng các loại mộng khác nhau tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh và thống nhất. Bên trong bộ khung nhà được làm theo các lối kết cấu kiến trúc truyền thống và trên đó là môtip trang trí quen thuộc của một kiến trúc tôn giáo.
Nghi môn của đình kiểu hai tầng tám mái. Tầng dưới dạng "ngũ môn" có các cửa hình vòm kích thước dài rộng khác nhau. Tầng trên xây theo kiểu "Vọng lâu" dạng tam quan với ba cửa. Đôi chỗ ở tầng trên và các ô cửa được xếp bằng gạch gốm mầu tạo ánh sáng và để trang trí.
Qua nghi môn là đến sân gạch khá rộng dẫn vào đại đình. Đại đình là một nếp nhà năm gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta. Hai đầu hồi đắp đầu kìm hình rồng hướng vào nhau. Phía trước gian giữa đại đình mở cửa bức bàn. Cả sáu cánh cửa đều được trang trí hình tứ quý. Bộ khung nhà đại đình làm bằng gỗ với sáu bộ vì chịu lực đỡ mái. Các vì đều sử dụng kiểu giá chiêng chồng rường bốn hàng chân với vì nóc có kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường con nhị. Kết cấu này gồm ba thanh rường dài ngắn khác nhau, kê trên nhau qua những đấu vuông nhỏ, thót đáy. Hệ thống kẻ trong vì ăn mộng qua các cột cái, cột quân. Đặt trên các thanh kẻ chắc khỏe là hệ thống hoành phân theo kiểu "thượng tứ hạ tứ" – lối rải hoành phổ biến của kiến trúc thời Nguyễn.
Nối với nhà đại đình là trung đình được chia làm ba gian dọc với bộ khung nhà làm bằng gỗ. Đỡ mái là bốn bộ vì được làm theo hai dạng thức khác nhau. Vì trước được làm theo dạng vì cốn mê hai hàng chân, vì nóc chạm nổi một mặt hổ phù điêu lớn, hai bên vì nách chạm nổi hình phượng đang xoè cánh và các văn thực vật, rùa, sóng thuỷ ba, vì sau làm theo kiểu chồng rường hai chân, khoảng cách giữa các vì được bưng bằng ván trên trang trí văn thực vật. Mỗi đấu kê được chạm nổi hình văn thực vật trông như bông hoa đang nở.
Hậu cung là một nếp nhà kiểu bốn mái, xây trên mặt bằng gần vuông. Nhà lợp mái ta, bờ dải đắp hình đầu kìm nhìn vào nóc mái. Bộ khung nhà bằng gỗ với hai bộ vì làm theo kiểu chồng rường con nhị. Vì kia có kết cấu kiểu vì kèo với hai kẻ dài gác chéo nhau theo chiều dốc mặt mái, ăn mộng với nhau ở đỉnh vì, đỡ thượng lương chạy xuống đầu cột cái, cột trốn đứng chân trên quá giang vươn lên đội vào chỗ đầu hai kẻ gác mộng tạo nên bộ vì đơn giản, vững chắc.
Song song với ống muống là hai nếp nhà dải vũ, mỗi nếp ba gian, xây gạch và bốn bộ vì đỡ mái kiểu vì kèo. Bên cạnh đình, cách một cái ao rộng là đền thờ Đức Thánh Bà Phu Nhân của Lý Lãng Công – thành hoàng làng Yên Bình, tạo thành một tổng thể hài hoà của khu di tích. Tương truyền nhân dân trong thôn vẫn gọi là đền thờ Mẫu. Bà là vợ của Lý Khuê (Lý Lãng Công) một trong 12 sứ quân đã cát cứ vùng Siêu Loại – Thuận Thành – Hà Bắc. Đây là một di tích nhỏ nằm trong quần thể kiến trúc đình - đền – chùa Yên Bình. Lai lịch của Đức Thánh Bà cũng không có tài liệu nào nhắc đến, chỉ biết bà là người ở thôn Yên Bình, nổi tiếng tài sắc hiền thục. Dân làng Yên Bình lập đền thờ Bà, nhưng cũng chính là thờ Mẫu – những thần linh của cư dân nông nghiệp cầu cho mưa thuận gió hòa.
Trang trí trên cấu trúc đình Yên Bình tập trung chủ yếu tại thân rường, đấu kê, vì nách, vì nóc và các hiện vật như hương án, kiệu bát cống, long ngai. Đó là những mảng chạm khắc được làm bằng kỹ thuật chạm nổi, chạm bong kênh rất chau chuốt với các đề tài trang trí truyền thống như tứ linh, tứ quý, rồng, phượng, long mã, hổ phù đều là những linh vật của vũ trụ đặc trưng cho tầng trên cho thánh nhân cõng trên lưng sự vận hành, chuyển đổi của vũ trụ, tạo vật. Đây cũng chính là ý nghĩa của các mảng trang trí, là ước vọng của con người luôn cầu sự no ấm, đầy đủ và may mắn.
Trải qua thời gian dài tồn tại, đình Yên Bình còn bảo lưu được nhiều di vật quý mang giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử. Trong nhiều di vật còn lại của di tích trước hết phải kể đến bộ sắc phong của các triều đại phong kiến phong cho vị thành hoàng. Niên hiệu cụ thể của 7 đạo sắc phong thần này như sau:
- Quang Trung ngũ niên thất nguyệt nhị thập bát nhật (1792)
- Cảnh Thịnh tứ niên ngũ nguyệt nhị thập thất nhật (1794)
- Bảo Hưng nhất niên ngũ nguyệt thập thất nhật (1801)
- Tự Đức lục niên ngũ nguyệt thập lục nhật (1854)
- Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt (1887)
- Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật (1909)
- Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật (1924)
Tiếp đến là một cỗ long ngai đặt trong ống muống, có tay ngai hình rồng chạm nổi rồng phượng, hổ phù. Một kỷ tam sơn bằng gỗ được chạm thủng, chạm lộng, nhiều họa tiết đẹp như hoa thị, hoa chanh, hổ phù, rồng chầu mặt nguyệt. Một kiệu bát cống được tạo tác công phu tỷ mỷ với những đường nét trang trí tài hoa, tạo nên những hình ảnh rồng phượng, hổ phù, phật thủ sinh động tự nhiên. Hai hương án, một được đặt ở trong ống muống, một đặt ở ngoài đại đình.
Đặc biệt đình Yên Bình vẫn còn giữ bốn bức hoành phi bằng gỗ ghi chữ Hán sơn son thếp vàng lộng lẫy, có nội dung như sau:
"Thai sơn hổ thị" – (niên đại 1923)
"Thánh cung vạn tuế"
"Phúc cư dân" – (niên đại 1916)
"Cung linh từ"
Ngoài ra còn các đồ thờ tự quý giá như: ba lọ cổ, đôi hạc thờ, ngựa thờ, ba đỉnh đồng, giá kiếm….tất cả đều được tạo tác vào thời Nguyễn.
Đình Yên Bình là nơi thờ phụng thành hoàng làng là thần Lý Khuê, tự là Lý Giang- một trong 12 sứ quân thời loạn Thập nhị sứ quân cát cứ ở Siêu Loại (tức Dương Xá- Gia Lâm). Sách "Đại việt sử ký toàn thư" của Ngô Sỹ Liên viết về ông như sau: "ở ngôi chỉ được 6 năm, Ngô Quyền mất năm 944, truyền ngôi cho con trưởng là Dương Ngập- em vợ là Dương Tam Kha là phụ chính. Dương Tam Kha thừa cơ cướp lấy ngôi của cháu, tự xưng là Bình Vương. Dương Ngập phải trốn về vùng Nam Sách, tìm đến nương nhờ người tôi trung của cha là Phạm Lệnh Công tại Trà Hương. Trong hoàn cảnh thấy Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, triều đình bê bối, nhiều cựu thần của nhà Ngô và các hào trưởng địa phương đã tiếp nhau nổi lên cát cứ, chiếm giữ đất đai, gây thành cuộc loạn Thập Nhị sứ quân. Lý Khuê lúc bấy giờ tự xưng là Lý Lãng Công cũng nổi lên chiếm giữ vùng Siêu Loại - phủ Thuận Thành, Bắc Ninh. Ông vốn là một bậc hào trưởng văn võ song toàn, có đức độ được nhân dân mến mộ, tin tưởng. Vì chán ghét cảnh vua tôi chèn ép, rối ren, vốn trung thành với nhà Ngô nên để phản đối sự cướp ngôi của Dương Tam Kha, Lý Lãng Công đã triệu tập quân sỹ nổi lên cát cứ vùng đất Siêu Loại, ông trở thành 1 trong 12 sứ quân lúc bấy giờ. Sau đó Lý Lãng Công bị Đinh Tiên Hoàng thu phục. Nạn "Thập nhị sứ quân" chấm dứt khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi". Ngài đã được sắc phong là Ngô Thông Thượng Đẳng phúc thần. Dân làng Yên Bình đã tôn Lý Lãng Công làm thành hoàng làng sau khi ông mất và thờ ở đình làng. Từ bấy đến giờ nhân dân nơi đây hưởng sự anh linh che chở của ngài.
Lễ hội hàng năm của đình Yên Bình được tổ chức trong ba ngày, từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng 2 âm lịch. Cuộc tế lễ diễn ra cầu mong hạnh phúc và phồn thực, cầu mong sự anh linh che chở của thành hoàng bao giờ cũng có cỗ rước thần. Thần được rước vọng xuống mộ. Sau phần tế lễ, phần hội được diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như đu quay, vật, chọi gà, bắt vịt, đua thuyền dưới ao, hát quan họ...