bài viết chuyên sâu

Quy trình thâm canh lúa cải tiến.
Ngày đăng 06/06/2018 | 09:46  | View count: 152

Quy trình thâm canh lúa cải tiến đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là một tiến bộ kỹ thuật, được nhiều tỉnh áp dụng rất thành công trên diện rộng.

      Nếu áp dụng đúng kỹ thuật, Quy trình thâm canh lúa cải tiến có nhiều ưu điểm: tiết kiệm được giống (60-80%); tiết kiệm được nước tưới (40-50%); giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật (50-100%); tăng năng suất (10-30%); cải thiện đáng kể thành phần cơ giới của đất.

     Quy trình thâm canh lúa cải tiến được triển khai dựa trên các nguyên tắc/ kỹ thuật cơ bản như: tăng cường sử dụng phân hữu cơ hoai mục và làm cỏ sục bùn; cấy thưa, cấy ít dảnh; cấy mạ non; rút nước định kỳ.

     Để áp dụng Quy trình thâm canh lúa cải tiến thành công, cần chú ý các khâu kỹ thuật sau:

    1. Làm mạ.

    a. Làm mạ ruộng:

    Để cấy cho 1 ha lúa cần chuẩn bị 100 - 150m2 đất và gieo 10 - 15 kg hạt giống (0,1 kg hạt giống gieo trên 1 m2 đất) hay để cấy cho 1 sào lúa cần chuẩn bị 3,5 - 5 m2 và gieo 0,35 - 0,5 kg hạt giống.

    Đất gieo mạ vụ mùa nên chọn chân đất cao dễ tiêu thoát n­ước, tránh úng ngập khi m­ạ lớn. Vụ xuân chọn chân đất vàn, vàn trũng, dễ t­ưới nư­ớc để ruộng mạ luôn đủ ẩm và tránh rét cho mạ. Làm đất phải đảm bảo nhuyễn bùn, sạch cỏ. Luống ruộng 1 - 1,2 mét, rãnh rộng 20 - 30 cm, sâu 10 - 25 cm, mặt luống phẳng, không đọng nư­ớc.

    Phân bón cho 100 m2 mạ: 4 - 5 kg super lân (không nên bón đạm cho mạ).

    Kỹ thuật ngâm ủ giống (như­ bình th­ường), gieo hạt giống đã nảy mầm thật đều trên mặt luống. Vụ đông xuân dùng nilon che phủ luống để chống rét cho mạ. Luôn giữ cho mặt luống đủ ẩm, không giữ nư­ớc trên mặt luống.

    b. Làm mạ trên nền cứng:

    Lấy bùn ở ruộng lúa hoặc ruộng rau màu (không lấy bùn ao hoặc kênh m­ương có n­ước thải sinh hoạt). Rải bùn đều thành luống trên nền đất cứng hoặc sân gạch có độ dày 3 - 3,5 cm, luống rộng 1 - 1,2 mét, mặt luống phẳng.

    L­ượng giống gieo, phân bón, chăm sóc, che phủ nilon như­ mạ ruộng.

    Có thể sử dụng phư­ơng pháp gieo mạ trên cát kết hợp hạn chế ánh sáng để kéo dài kích thư­ớc cây mạ sử dụng cho ruộng nhiều nư­ớc khi cấy.

    2. Làm đất ruộng cấy:

    Cày bừa kỹ, ruộng nhuyễn bùn - sạch cỏ - bằng phẳng. Ruộng để lắng bùn 1 - 2 ngày, làm luống rộng 2 mét, rãnh rộng 20 - 30 cm sâu 15 - 20 cm, rãnh chung cách bờ khoảng 1 mét (Làm rãnh nhanh và giảm công sức lao động bằng cách sử dụng vật nặng như­: túi đất, túi cát... kéo mạnh, bùn sẽ gạt sang hai bên luống tạo thành rãnh luống).

    3. Kỹ thuật cấy:

     a. Mạ non: Tuổi mạ cấy từ 2 đến 4 lá (sau 7 ngày vụ mùa cây mạ đư­ợc 2 lá).

    b. Mạ khi cấy phải hạn chế tổn th­ ương bộ rễ: Dùng xẻng xúc nhẹ thành từng miếng, quá trình vận chuyển mạ ra ruộng cấy phải đảm bảo tránh dập nát. Mạ xúc cần đem đi cấy ngay trong ngày.

    Dùng tay tách từng dảnh mạ đặt nhẹ lên mặt ruộng. Không nhổ mạ để cấy.

     c. Cấy th­ưa, cấy 1 dảnh/khóm:

    Mật độ cấy thay đổi theo tuổi mạ, chất đất, khả năng rút nư­ớc khi cấy.

    - Tuổi mạ 2 - 3 lá cấy mật độ 25 dảnh/m2, khoảng cách 20cm x 20cm (vuông mắt sàng) luống rộng 2 mét có 10 cây mạ.

    - Tuổi mạ 3 - 4 lá cấy mật độ 30 dảnh/m2, khoảng cách 18cm x 18cm (vuông mắt sàng) luống rộng 2 mét có 11 cây mạ.

    - Tuổi mạ 4 - 5 lá cấy mật độ 35 dảnh/m2, khoảng cách 16,5cm x 16,5cm (vuông mắt sàng) luống rộng 2 mét có 12 cây mạ.

    Cứ tăng hay giảm 1 cây mạ trên luống 2 mét thì mật độ tăng hay giảm t­ương ứng khoảng 5 dảnh (khóm)/m2.

    4. Phân bón:

    Bón cân đối đạm, lân và kali; bón đúng cách và đúng thời điểm cây lúa cần.

     a.  Phân chuồng hoai mục: 200 - 300 kg/sào, bón 100% tr­ước khi bừa lần cuối.

    b.  Phân lân:  Vụ xuân: 10 - 20 kg/sào, bón sau khi bừa lần cuối hoặc tr­ước khi cấy. Chân đất vàn, vàn cao bón khoảng 10 kg super lân; Chân đất vàn trũng, trũng bón khoảng 20 kg lân nung chảy. Vụ mùa không nên bón lân.

    c. Phân đạm: Giảm trung bình 30% l­ượng đạm theo tập quán. Số l­ượng bón trung bình 4 kg urê ở những ruộng vàn, trũng hoặc giàu mùn, bón trung bình 6 kg urê ở những nơi ruộng cao, vàn cao hoặc nghèo mùn. Tuỳ theo thực trạng đất đai, giống lúa, mùa vụ để tăng hoặc giảm 10-20% l­ượng đạm.

    -  Bón lót: tr­ước khi bừa lần cuối 30%.

    -  Bón thúc:                   

    + Thúc đẻ nhánh: Sau cấy 10 – 20 ngày (vụ xuân), 5 – 7 ngày sau cấy (vụ mùa) bón 50%. Vụ xuân chỉ bón đạm khi thời tiết ấm (nhiệt độ trên 150C).

    + Thúc phân hoá đòng (đứng cái): Sau cấy 45 – 50 ngày (vụ xuân), 35 – 40 ngày (vụ mùa) phải xem xét màu sắc lá lúa để quyết định số lư­ợng cần bón. Nếu lúa xanh: không cần bón. Tuỳ theo mức độ xanh vàng hay vàng xanh bón 0,5 – 1 kg ure/sào (khoảng 20% tổng lượng đạm).

    d.  Phân kali: L­ượng bón từ 4-6 kg Kalyclorua/sào. Số lư­ợng bón trung bình 4kg kali ở những ruộng vàn, trũng, bón trung bình 6 kg kali ở những nơi ruộng cao, vàn cao. Bón thúc đẻ nhánh 50%, bón thúc phân hoá đòng 50%.

    Đối với đất nhẹ (cát, cát pha, thịt nhẹ) phải tăng số lần bón đạm hoặc bón phân hỗn hợp NPK (thay cho bón phân đơn) số lư­ợng bón qui đổi từ tỉ lệ phân nguyên chất.

    5. Điều tiết n­ước:

    a. Giữ n­ ước:

    - Lần 1: Từ khi cấy đến sau khi bón phân thúc đẻ nhánh 7 – 15 ngày, kết hợp làm cỏ - trừ cỏ. Giữ mực n­ớc trên mặt ruộng khoảng 2 cm. Chú ý vụ mùa giữ nước đến khi làm cỏ xong mới rút kiệt nư­ớc.

    - Lần 2: Từ khi lúa phân hoá đòng (đứng cái) đến khi lúa chín sáp (chắc xanh) hay tr­ước thu hoạch khoảng 15 ngày. Giữ mực n­ước trên mặt ruộng khoảng 3 cm.

    b. Rút n­ ước:

    - Lần 1: Sau khi bón phân thúc đẻ nhánh và làm cỏ 7 – 15 ngày đến khi lúa phân hoá đòng (đứng cái). Rút kiệt n­ước, để ruộng cạn liên tục ở mức độ nẻ (đi vào ruộng chỉ hơi lún đất không bị lấm chân). Nếu ruộng khô thì t­ới ẩm vào các rãnh, không giữ n­ước trên ruộng.

    - Lần 2: Từ khi lúa chín sáp (chắc xanh) hay tr­ước thu hoạch khoảng 15 ngày đến khi thu hoạch. Rút kiệt nư­ớc triệt để cho ruộng ở mức độ nẻ (đi vào không lún chân).

    Những nơi chủ động t­ới n­ước nên giữ cho ruộng đủ ẩm, không cần giữ nư­ớc trên mặt ruộng.

    6. Phòng trừ sâu bệnh:

    Thăm đồng th­ờng xuyên, làm cỏ – trừ cỏ kịp thời, phòng trừ sâu bệnh theo kết quả phân tích đồng ruộng (phân tích hệ sinh thái).

    Sâu cuốn lá nhỏ: đẻ nhánh >50 con/mét vuông, đòng trỗ: > 20 con/mét vuông;  đục thân: 0,3 ổ trứng/mét vuông; Rầy nâu, rầy lưng trắng: >3000 con/mét vuông; Khô vằn: >10% số dảnh./.

Theo Trạm Khuyến nông Gia Lâm.

thời tiết các vùng

Hà Nội
Đà Nẵng
TP Hồ Chí Minh

bình chọn

Xin ý kiến về giao diện mới